VANCOMYCIN 1G
Thành phần: Thành phần cấu tạo của thuốc:
- Cho 01 lọ bột đông khô pha tiêm:
Dược chất: Vancomycin (dưới dạng vancomycin hydroclorid)…1000 mg
Tá dược: Manitol vừa đủ ………1 lọ
- Cho 01 ống dung môi pha tiêm: Nước cất pha tiêm vđ 10ml
Dạng bào chế: Bột đông khô pha tiêm.
Dược lực học:
Mã ATC: J01XA01.
Vancomycin là kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế quá trình sinh
tổng hợp vỏ tế bào vi khuẩn. Vancomycin còn tác động đến tính thấm màng tế bào
và quá trình tổng hợp ARN của vi khuẩn. Cho tới nay, chưa có báo cáo về kháng
chéo của vi khuẩn giữa các kháng sinh khác và vancomycin.
Phổ kháng khuẩn:
Vancomycin có tác dụng tốt trên các vi khuẩn Gram dương ưa khí và kỵ khí, bao gồm: Tụ cầu, gồm Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis (kể cả các chủng kháng methicilin không đồng nhất); liên cầu, gồm Streptococcus pneumoniae (kể cả chủng đã kháng penicilin), Streptococcus agalactiae, Streptococcus pyogenes, Streptococcus bovis; cầu tràng khuẩn (ví dụ Enterococcus faecalis) và Clostridiae.
Vancomycin có tác dụng in vitro trên các vi khuẩn: Listeria monocytogenes, Lactobacillus spp, Actinomyces spp, Clostridium spp và Bacillus spp.
Các vi khuẩn Gram âm đều kháng lại vancomycin. Thuốc không có tác dụng in vitro
đối với các trực khuẩn Gram âm, Mycobacteria, nấm.
Clostridium difficile nhạy cảm tốt với thuốc, nhưng để tránh nguy cơ kháng thuốc, vancomycin chỉ được dùng khi các kháng sinh khác đã không còn tác dụng. Không dùng vancomycin cho các trường hợp mà Clostridium difficile đã phát triển quá mức sau khi dùng kháng sinh.
Nồng độ tối thiểu ức chế (MIC) của vancomycin đối với hầu hết các chủng nhạy cảm từ 0,1 đến 2,0 microgam/ml. Nồng độ diệt khuẩn của thuốc không cao hơn nhiều so với MIC. Các chủng vi khuẩn có MIC dưới 4,0 microgam/ml được coi là nhạy cảm với vancomycin, các chủng có MIC từ 4,0 microgam/ml đến 16,0 microgam/ml là nhạy cảm vừa phải. Các chủng vi khuẩn có MIC từ 16 microgam/ml trở lên được xếp là loại kháng thuốc.
Với các Enterococcus, vancomycin không có hiệu lực cao như với các Staphylococcus. Thuốc chỉ có tác dụng kìm khuẩn.
Khả năng kháng thuốc:
Tỷ lệ khả năng đề kháng của mỗi chủng vi khuẩn đối với vancomycin có thể khác nhau ở mỗi vùng và thời gian điều trị, đặc biệt khi bệnh nhân điều trị các nhiễm khuẩn nặng. Khi sử dụng vancomycin để điều trị, cần thiết phải tham khảo tính kháng thuốc của vancomycin tại nơi điều trị hoặc có thể dựa vào kết quả làm kháng sinh đồ trên mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân.
Cơ chế đề kháng:
Cơ chế đề kháng của vancomycin đối với các chủng Enterococcus vẫn chưa thực sự rõ ràng. Tuy nhiên, nghiên cứu in vitro cho thấy khi kháng vancomycin ở nồng độ cao thường liên quan đến sự hiện diện của một protein có kiểu hình gọi là VanA.
Còn kháng vancomycin ở nồng độ thấp thường liên quan đến sự hiện diện của kiểu hình khác, gọi là VanB.
Đối với chủng Staphylococcus: Các nghiên cứu dịch tễ và nghiên cứu in vitro đã xác định được mức độ giảm nhạy cảm kháng sinh vancomycin và cơ chế đề kháng của thuốc khi bệnh nhân bị lây truyền các chủng Staphylococcus. Trên in vitro cho thấy
gen VanA liên quan đến tính đề kháng của vancomycin trong chủng Enterococcus
có thể chuyển giao cho các vi khuẩn gram dương như S. Aureus, dẫn đến các chủng
vi khuẩn này kháng vancomycin.
Dược động học:
Thuốc được dùng đường tĩnh mạch để điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn toàn thân. Tiêm bắp gây đau.
Sau khi tiêm tĩnh mạch, thuốc được phân bố trong các dịch ngoại bào. Nồng độ ức chế vi khuẩn đạt được tại dịch màng phổi, dịch màng ngoài tim, dịch cổ trướng hoạt dịch, trong nước tiểu, trong dịch thẩm tách màng bụng và trong mô tiểu nhĩ.
Nồng độ thuốc trong dịch não tủy rất thấp khi màng não không bị tổn thương.
Thể tích phân bố của thuốc xấp xỉ 60 lít/70kg (diện tích thân thể bằng 1,73 m²). Thời gian bán thải của thuốc từ 3 đến 13 giờ (trung bình 6 giờ ở người có chức năng thận bình thường), có thể kéo dài hơn ở người bị tổn thương thận và tới 7 ngày hoặc hơn nữa ở những người bệnh suy thận nặng. Khi nồng độ thuốc trong huyết tương là 10 – 100 microgam/ ml, đo bằng phương pháp siêu lọc, thấy có 55% liều vancomycin liên kết với protein huyết tương. Thuốc hầu như không chuyển hóa.
Vancomycin thải trừ chủ yếu qua thận, vì vậy chức năng thận đóng vai trò rất quan trọng. Ở người có chức năng thận bình thường, khoảng 70 – 80% liều dùng được thải trừ ở dạng không đổi qua nước tiểu trong vòng 24 giờ. Không loại bỏ được vancomycin bằng phương pháp thẩm tách máu hay thẩm tách màng bụng.
Chỉ định:
Vancomycin là kháng sinh chỉ được sử dụng trong bệnh viện và chỉ cho những người bệnh được theo dõi chặt chẽ, vì có nguy cơ cao về các tác dụng không mong muốn.
Chỉ định điều trị nhiễm khuẩn do các chủng vi khuẩn nhạy cảm với vancomycin trong các trường hợp sau:
- Các trường hợp nhiễm khuẩn máu khó điều trị do các vi khuẩn Gram dương như viêm màng trong tim nhiễm khuẩn và viêm màng trong tim có lắp van nhân tạo.
Vancomycin được chỉ định khi người bệnh dị ứng penicilin hoặc đã điều trị thất bại.
Nếu điều trị viêm màng trong tim bằng benzylpenicilin phối hợp với aminoglycosid không có hiệu quả sau 2 – 3 ngày thì nên dùng vancomycin. Có thể phối hợp với aminoglycosid hoặc rifampicin để tăng hiệu lực.
- Các trường hợp nhiễm khuẩn máu nặng do tụ cầu mà các kháng sinh khác không có tác dụng, như nhiễm khuẩn do S. aureus kháng isoxazolyl – penicilin, hay phổ biến hơn là S. epidermidis kháng isoxa – penicilin.
- Các nhiễm khuẩn cầu nối do Staphylococcus thường là S. epidermidis, như trường hợp dẫn lưu não thất và cầu nối lọc máu. Vancomycin được dùng đường tĩnh mạch và cho vào dịch thẩm tách.
- Dự phòng viêm màng trong tim trước phẫu thuật đặc biệt là phẫu thuật phụ khoa và đường ruột cho các người bệnh dị ứng penicilin.
Liều dùng – cách dùng:
Cách dùng: Vancomycin được truyền tĩnh mạch chậm để điều trị nhiễm khuẩn toàn thân. Thuốc rất kích ứng với mô nên không được tiêm bắp.
Truyền tĩnh mạch gián đoạn: Thêm 10ml nước vô khuẩn để tiêm trong ống dung môi vào lọ bột đông khô chứa 1g vancomycin, lắc cho tan hoàn toàn. Dung dịch chứa 1,0 g vancomycin phải được pha loãng trong 200 ml dung dịch tiêm truyền dextrose 5% hoặc natri clorid 0,9% để tạo ra dung dịch pha loãng có nồng độ vancomycin không quá 5 mg/ml và được truyền tĩnh mạch chậm trong ít nhất 100 phút. Dung dịch sau khi pha loãng để tiêm truyền tĩnh mạch nếu không được sử dụng ngay, chỉ bảo quản tối đa 24 giờ ở nhiệt độ 2 – 8°C. Ở các bệnh nhân cần hạn chế chất lỏng, có thể truyền dung dịch có nồng độ vancomycin 10 mg/ml, tuy nhiên sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra tác dụng không mong muốn.
Cần tránh tiêm tĩnh mạch nhanh và trong khi truyền phải theo dõi chặt chẽ để phát
hiện hạ huyết áp nếu xảy ra.
Khi không thể truyền tĩnh mạch gián đoạn, có thể truyền tĩnh mạch liên tục: Cho 1 –
2 gam vancomycin được pha vào dung dịch glucose 5% hoặc natri clorid 0,9% vừa
đủ để truyền nhỏ giọt trong 24 giờ.
Liều dùng:
Liều dùng được tính theo vancomycin base.
- Với người có chức năng thận bình thường: 500 mg, cứ 6 giờ một lần hoặc 1g, cứ
12 giờ một lần.
Đa số các trường hợp nhiễm khuẩn do vi khuẩn nhạy cảm có đáp ứng với điều trị
trong vòng 48 – 72 giờ. Thời gian điều trị phụ thuộc vào loại và mức độ nhiễm
khuẩn. Người bệnh viêm nội tâm mạc do tụ cầu cần phải điều trị ít nhất 3 tuần.
- Trẻ em từ 1 tháng tuổi trở lên: 10 mg/kg, cứ 6 giờ một lần. Tối đa 2g/ngày.
- Trẻ sơ sinh: Liều đầu tiên 15 mg/kg, tiếp theo là 10 mg/kg, cứ 12 giờ một lần đối với trẻ dưới 1 tuần tuổi hoặc tiếp theo là 10 mg/kg, cứ 8 giờ một lần cho trẻ từ 1 tuần tới 1 tháng tuổi.
- Với người suy giảm chức năng thận, trẻ đẻ non và người cao tuổi:
Cần điều chỉnh liều ở người bệnh có chức năng thận suy giảm, trẻ đẻ non và người cao tuổi. Đo nồng độ vancomycin trong huyết thanh có thể giúp ích, đặc biệt ở người bị bệnh rất nặng.
Nếu đo được hoặc tính được chính xác độ thanh thải creatinin thì có thể áp dụng chế độ liều như sau: Dùng một liều khởi đầu 15 mg/kg, liều hàng ngày tiếp theo (tính bằng mg) gấp 15 lần tốc độ lọc cầu thận (tính bằng ml/phút). Đối với người bệnh vô niệu, dùng liều 1g mỗi 7 đến 10 ngày.
Độ thanh thải creatinin có thể tính theo creatinin huyết thanh:
Cho nam giới:
Độ thanh thải creatinin = (trọng lượng cơ thể (kg) x (140 – tuổi người bệnh))/(72
x nồng độ creatinin huyết thanh (mg/100 ml))
Cho nữ giới: Độ thanh thải creatinin = 0,85 x trị số trên
Chống chỉ định:
Người mẫn cảm với vancomycin hay với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Các trường hợp thận trọng khi dùng thuốc:
Dùng vancomycin kéo dài có thể làm phát triển quá mức các vi khuẩn không nhạy cảm, vì vậy cần phải theo dõi cẩn thận.
Với các người bệnh suy giảm chức năng thận, cần phải điều chỉnh liều và theo dõi chức năng thận chặt chẽ.
Cần tránh dùng đồng thời với các thuốc có độc tính cao trên thận và thính giác.
Dùng đồng thời với aminoglycosid gây nguy cơ độc cao với thận, tuy nhiên vẫn cần phối hợp thuốc trong những trường hợp nhiễm khuẩn nặng đe dọa tính mạng.
Cần đo chức năng thính giác nhiều lần phòng nguy cơ độc đối với thính giác khi dùng vancomycin.
Theo dõi số lượng bạch cầu trên người bệnh dùng thuốc kéo dài hoặc dùng phối hợp thuốc vì vancomycin có thể gây giảm bạch cầu trung tính có hồi phục.
Vancomycin gây kích ứng mô, nên bắt buộc phải tiêm tĩnh mạch. Đau, ấn đau và hoại tử xảy ra nếu tiêm bắp hoặc tiêm ra ngoài mạch.
Viêm tắc tĩnh mạch có thể xảy ra. Truyền tốc độ chậm dung dịch thuốc pha loãng (2,5 đến 5 mg/ml) và thay đổi vị trí tiêm giúp hạn chế tần suất và mức độ nặng của tác dụng phụ này.
Phụ nữ có thai:
Kinh nghiệm lâm sàng và các dữ liệu về dùng thuốc cho người mang thai còn ít.
Chưa rõ thuốc có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản hay không.
Mới có duy nhất một nghiên cứu lâm sàng có đối chứng (1991), theo dõi khả năng gây độc trên thận và thính giác cho trẻ sơ sinh của 10 bà mẹ dùng vancomycin tiêm tĩnh mạch trong lúc mang thai. Không có trường hợp nào bị mất khả năng nghe và độc với thận do vancomycin. Thuốc đã tìm thấy được trong máu cuống nhau. Tuy nhiên, số lượng người bệnh trong nghiên cứu này còn ít và thuốc chỉ được dùng trong 6 tháng cuối của thai kỳ nên chưa rõ vancomycin có gây hại cho thai nhi hay không. Chỉ dùng vancomycin cho người mang thai trong trường hợp thật cần thiết, cho những người bệnh nhiễm khuẩn rất nặng.
Phụ nữ cho con bú:
Vancomycin tiết qua sữa mẹ. Ảnh hưởng của vancomycin trên trẻ đang bú mẹ có dùng vancomycin chưa được biết rõ. Vancomycin được hấp thu rất ít qua đường uống khi ống tiêu hóa bình thường, nguyên vẹn. Do vậy, hấp thu thuốc vào hệ tuần hoàn của trẻ không đáng kể. Tuy vậy, có ba vấn đề với trẻ đang bú sữa mẹ: Gây biến đổi vi khuẩn chí đường ruột, tác dụng trực tiếp lên trẻ đang bú mẹ (ví dụ như phản ứng dị ứng hay mẫn cảm) và làm sai kết quả nuôi cấy vi khuẩn. Căn cứ vào tầm quan trọng của thuốc đối với bà mẹ để quyết định ngừng thuốc hay ngừng cho con bú.
Người vận hành máy móc, đang lái tàu xe, người làm việc trên cao và các trường
hợp khác:
Thuốc có thể gây một số phản ứng quá mẫn như ban đỏ dữ dội kèm ngứa, hạ huyết áp, đau thắt ngực, co thắt hệ cơ lưng, suy hô hấp. Do đó không nên sử dụng thuốc khi lái xe, vận hành máy móc hoặc làm việc trên cao.
Tương tác thuốc:
Các thuốc gây mê dùng đồng thời với vancomycin có thể gây ban đỏ, nóng bừng giống phản ứng giải phóng histamin và phản ứng dạng phản vệ. Nếu người bệnh cần dùng cả hai loại thuốc, cần kết thúc truyền vancomycin trước khi bắt đầu khởi mê.
Các thuốc độc với thận và thính giác (dùng ngoài hoặc toàn thân) dùng đồng thời hoặc tiếp theo với vancomycin, ví dụ như amphotericin B, aminoglycosid, bacitracin, polymyxin B, colistin, thuốc lợi tiểu quai, viomycin hay cisplatin làm tăng độc tính trên thận và thính giác, chỉ được sử dụng trong trường hợp cần thiết và phải theo dõi thật cẩn thận.
Khi phối hợp vancomycin với dobutamin hoặc dopamin có thể làm giảm nồng độ
vancomycin huyết thanh.
Vancomycin làm tăng tác dụng phong bế thần kinh cơ của các thuốc giãn cơ như
suxamethonium, vecuronium, rocuronium.
Dùng vancomycin cùng với ciclosporin, tacrolimus làm gia tăng độc tính trên thận.
Vancomycin khi dùng cùng với thuốc lợi tiểu quai sẽ làm tăng độc tính trên tại. Cần thận trọng khi dùng vancomycin với furosemid, vì có thể furosemid, đơn thuần hoặc phối hợp với theophylin, đều làm giảm nồng độ vancomycin huyết thanh.
Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tác dụng không mong muốn hay gặp nhất với vancomycin là viêm tĩnh mạch và phản ứng giả dị ứng. Nếu truyền thuốc quá nhanh, có nguy cơ xảy ra phản ứng rất nghiêm trọng do giải phóng histamin, đó là hiện tượng giả dị ứng. Các phản ứng này rất khó phân biệt với phản ứng tăng mẫn cảm miễn dịch thực sự.
Thường gặp, ADR>1/100
Toàn thân: Phản ứng giả dị ứng có thể xảy ra ở 3% người bệnh dùng thuốc. Có 3 loại
phản ứng:
Ban đỏ dữ dội: Hội chứng “cổ đỏ” hay “người đỏ”. Ban đỏ được thấy ở họng, phần
ngực trên và mặt. Phản ứng da này có thể xuất hiện trong vòng 10 phút. Mày đay và
ngứa cũng có thể xảy ra. Ban đỏ sẽ mất trong vòng vài giờ.
Hạ huyết áp: Hạ huyết áp tâm thu, xuống khoảng 20 – 25%. Thậm chí có những
trường hợp vô tâm thu khi truyền thuốc quá nhanh.
Đau và co thắt cơ: Người bệnh bị cơn đau cấp ở ngực và hệ cơ lưng. Điện tâm đồ
vẫn bình thường. Thở rít và suy hô hấp có thể xảy ra.
Những phản ứng này lành tính, tùy thuộc vào mức độ giải phóng histamin. Dùng
thuốc kháng thụ thể histamin – 1, hydroxyzin 50mg, hai giờ trước khi truyền
vancomycin sẽ giảm bớt nguy cơ của các phản ứng này. Vancomycin phải được
truyền chậm.
Tuần hoàn: Viêm tắc tĩnh mạch. Truyền thuốc chậm và pha loãng đúng cách dung
dịch truyền tới nồng độ 2,5 -5 mg/ml sẽ giảm bớt đáng kể nguy cơ phản ứng này.
Tiết niệu – sinh dục: Tăng creatinin và nitrogen huyết thanh là biểu hiện độc và tổn
thương thận.
Ít gặp, 1/1000<ADR<1/100
Da: Phát ban, mày đay, ngứa.
Tai: Giảm khả năng nghe hoặc điếc.
Hiếm gặp, ADR<1/1000
Toàn thân: Phản ứng phản vệ, sốt, rét run, chóng mặt.
Máu: Giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính.
Da: Viêm da tróc vảy.
Tai: Ù tai.
Đã có một số ca mất bạch cầu hạt có hồi phục hoặc viêm đại tràng giả mạc. Độc tính trên thính giác có thể hồi phục hoặc vĩnh viễn. Chủ yếu gặp ở người bệnh dùng thuốc quá liều, người bệnh đã bị giảm thính lực từ trước, và người bệnh dùng đồng thời với các thuốc độc với thính giác khác như các aminoglycosid.
Tương kỵ:
Dung dịch vancomycin hydroclorid có pH acid, nên tương kỵ với các chế phẩm kiềm và các thuốc không bền vững ở pH thấp. Đã thấy có tương kỵ giữa vancomycin với aminophylin, aztreonam, barbiturat kể cả phenobarbiton, benzylpenicilin (đặc biệt là trong dung dịch dextrose), ceftazidim, ceftriaxon, cloramphenicol natri, dexamethason natri phosphat, dung dịch tăng thể tích huyết tương gelatin hoặc polygelin, heparin natri, idarubicin, methicilin natri, natri bicarbonat, ticarcilin, và warfarin natri. Các báo cáo về tương kỵ nhiều khi không thống nhất. Nồng độ và thành phần các dung dịch dùng pha loãng cũng ảnh hưởng đến tính tương kỵ.
Quá liều và cách xử trí:
Triệu chứng: Dùng thuốc quá liều tăng nguy cơ gây độc của thuốc.
Xử trí: Điều trị hỗ trợ, duy trì mức lọc cầu thận. Loại bỏ vancomycin bằng phương
pháp thẩm tách ít có hiệu quả. Lọc máu qua màng và qua chất hấp phụ giúp tăng
tốc độ thải trừ vancomycin.
Điều kiện bảo quản:
Nơi khô ráo, nhiệt độ dưới 30°C, tránh ánh sáng.
Dung dịch sau khi pha loãng: Nhiệt độ từ 2 – 8°C.
Hạn dùng:
Lọ bột đông khô: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Ống dung môi pha tiêm: 48 tháng kể từ ngày sản xuất.
Dung dịch sau khi pha loãng: 24 giờ sau khi pha loãng.




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.