KETOROLAC A.T
- Hoạt chất: Ketorolac tromethamine ……………….. 30 mg
Tá dược: Vừa đủ 2 ml.
(Ethanol, Acid hydrocloric, Natri clorid, Acid citric, Natri hydroxyd,
Nước cất pha tiêm).
- DẠNG BÀO CHẾ: Dung dịch tiêm.
Mô tả sản phẩm: Dung dịch trong suốt, không màu.
- CHỈ ĐỊNH
Điều trị ngắn ngày đau vừa tới nặng sau phẫu thuật, dùng thay thế các chế phẩm opioid. Sử dụng tối đa trong 2 ngày.
- LIỀU DÙNG VÀ CÁCH DÙNG n
Liều dùng
Liều thông thường người lớn
Tiêm bắp
- Bệnh nhân dưới 65 tuổi: Dùng 1 liều 60 mg (2 ống).
- Bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên, bệnh nhân suy thận, bệnh trọng lượng cơ thể dưới 50kg: Dùng 1 liều 30 mg.
Tiêm tĩnh mạch
- Bệnh nhân dưới 65 tuổi: Dùng 1 liều 30 mg
- Bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên, bệnh nhân suy thận, bệnh nhân có trọng lượng cơ thể dưới 50kg: Dùng 1 liều 15 mg.
Điều trị đa liều ở người lớn (tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch)
- Bệnh nhân dưới 65 tuổi: Liều khuyên dùng là 30mg mỗi 6 giờ.
Liều tối đa 120 mg/ngày.
- Bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên, bệnh nhân suy thận, bệnh nhân có trọng lượng cơ thể dưới 50 kg: Liều khuyên dùng là 15mg mỗi 6 giờ.
Liều tối đa 60 mg/ngày.
Khi cần giảm đau mạnh hơn thì không nên tăng liều ketorolac mà nên dùng phối hợp thêm với thuốc giảm đau opioid liều thấp nếu không có chống chỉ định đặc biệt.
- Cách dùng
Liệu pháp ketorolac thường bắt đầu bằng tiêm, sau đó dùng liều uống duy trì. Tuy nhiên, thời gian điều trị bằng bất kỳ đường nào hoặc phối hợp các đường (uống, tiêm) cũng không được quá 5 ngày.
Người bệnh phải được chuyển sang điều trị bằng 1 thuốc giảm đau khác càng nhanh khi có thể. Liều tiêm tĩnh mạch phải tiêm chậm ít nhất 15 giây. Liều tiêm bắp phải tiêm chậm, sâu vào trong cơ.
Điều trị đơn liều: Liều lượng sử dụng khi dùng liều duy nhất.
- CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Tiền sử viêm loét dạ dày hoặc chảy máu đường tiêu hóa.
Xuất huyết não hoặc có nghi ngờ. Cơ địa chảy máu, có rối loạn đông máu. Người bệnh phải phẫu thuật, có nguy cơ cao chảy máu hoặc cầm máu không hoàn toàn. Người bệnh đang dùng thuốc chống đông.
Quá mẫn với ketorolac hoặc các thuốc chống viêm không steroid khác; người bệnh bị dị ứng với các chất ức chế tổng hợp prostaglandin hoặc aspirin.
Hội chứng polyp mũi, phù mạch hoặc co thắt phế quản.
Giảm thể tích máu lưu thông do mất nước hoặc bất kỳ nguyên nhân nào.
Giảm chức năng thận vừa và nặng.
Người mang thai, chuyển dạ và sinh nở hoặc cho con bú.
Trẻ em dưới 16 tuổi: An toàn và hiệu quả của thuốc chưa được xác định. Không nên dùng ketorolac cho lứa tuổi này.
Thuốc tiêm dung dịch ketorolac có chứa ethanol vì vậy chống chỉ định cho đường tiêm ngoài màng cứng hoặc tiêm trong vỏ.
Không kết hợp ketorolac với các thuốc chống viêm không steroid khác với aspirin và probenecid, lithi và oxpentifylline.
- CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC
- Bằng chứng dịch tễ học cho thấy rằng ketorolac có thể liên quan đến nguy cơ ngộ độc đường tiêu hóa nghiêm trọng, đặc biệt là khi sử dụng ngoài chỉ định cho phép và/hoặc trong thời gian dài.
Các bác sĩ nên lưu ý rằng ở một số bệnh nhân, giảm đau có thể không xảy ra cho đến 30 phút hoặc nhiều hơn sau khi tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
- Việc sử dụng các ketorolac với các NSAIDs khác bao gồm cả thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 nên tránh.
- Tác dụng không mong muốn có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng các liều tối thiểu có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất cần thiết để kiểm soát các triệu chứng.
Xuất huyết, loét và thủng dạ dày – ruột
Xuất huyết, loét hoặc thủng đường tiêu hóa, có thể gây tử vong, đã được báo cáo với tất cả các thuốc NSAIDs, bao gồm ketorolac, xảy ra bất kỳ lúc nào trong quá trình điều trị, có hoặc không có các triệu chứng cảnh báo hoặc có tiền sử trước đó xuất huyết tiêu hóa nghiêm trọng.
Người cao tuổi có tần số các phản ứng bất lợi tăng khi dùng NSAIDs, đặc biệt là xuất huyết và thủng tiêu hóa có thể gây tử vong.
So với người trẻ tuổi, người cao tuổi có thời gian bán thải của thuốc trong huyết tương tăng và độ thanh thải của ketorolac trong huyết tương giảm. Kéo dài khoảng thời gian giữa các liều được khuyến khích.
Nguy cơ xuất huyết, loét hoặc thủng tiêu hóa cao khi tăng liều NSAIDs, gồm ketorolac ở những bệnh nhân có tiền sử loét, đặc biệt xuất huyết hay thủng đường tiêu hóa, và ở người già. Nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa nghiêm trọng trên lâm sàng là phụ thuộc liều.
Những bệnh nhân này nên bắt đầu từ liều thấp nhất có thể. Kết hợp điều trị với thuốc bảo vệ (misoprostol hoặc thuốc ức chế bơm proton) cần được xem xét cho những bệnh nhân này, và cho bệnh nhân cần dùng aspirin liều thấp, hoặc các loại thuốc khác có thể làm tăng nguy cơ tiêu hóa.
Bệnh nhân có tiền sử nhiễm độc đường tiêu hóa, đặc biệt là người già, nên báo cáo bất kỳ triệu chứng bụng bất thường (nhất là xuất huyết tiêu hóa) đặc biệt trong giai đoạn đầu của điều trị. Khi xuất huyết tiêu hóa hoặc loét xảy ra ở những bệnh nhân sử dụng
ketorolac, việc điều trị nên được ngừng.
- NSAIDs cần được thận trọng ở bệnh nhân có tiền sử bệnh viêm đường ruột (viêm loét đại tràng, bệnh Crohn) vì có thể làm cho bệnh trầm trọng hơn.
- Thận trọng khi dùng đồng thời các thuốc có thể làm tăng nguy cơ loét hoặc xuất huyết, như corticosteroid đường uống, thuốc ức chế tái thu hồi chọn lọc serotonin hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu như aspirin.
- Chống chỉ định sử dụng ketorolac ở những bệnh nhân dùng thuốc chống đông như warfarin.
- Như với các NSAIDs khác tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của biến chứng đường tiêu hóa có thể tăng khi tăng liều và thời gian điều trị với ketorolac. Nguy cơ xuất huyết đường tiêu hóa nghiêm trọng trên lâm sàng là phụ thuộc vào liều. Điều này đặc biệt đúng ở những bệnh nhân cao tuổi dùng liều ketorolac trung bình hàng ngày lớn hơn 60 mg/ngày. Người có tiền sử loét dạ dày có nguy cơ bị các biến chứng đường tiêu hóa nghiêm trọng cao.
Tim mạch và mạch máu não
Cần theo dõi và tư vấn thích hợp cho bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp và/hoặc suy tim sung huyết nhẹ đến trung bình, vì NSAIDs gây giữ nước và phù đã được báo cáo.
- Thử nghiệm lâm sàng và dữ liệu dịch tễ cho thấy rằng việc sử dụng các Coxib và một số NSAIDs (đặc biệt ở liều cao và điều trị lâu dài) có thể liên quan đến nguy cơ gia tăng các huyết khối động mạch (nhồi máu cơ tim hay đột quỵ). Không loại trừ nguy cơ này với ketorolac.
Bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát soát được, suy tim sung huyết, bệnh thiếu máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại biên, và/hoặc bệnh mạch máu não chỉ nên được điều trị với ketorolac sau khi xem xét cẩn thận. Tương tự cần xem xét cẩn thận trước khi bắt đầu điều trị lâu dài ở bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch
(ví dụ tăng huyết áp, tăng lipid huyết, đái tháo đường và hút thuốc lá).
Nguy cơ huyết khối tim mạch
Các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), không phải aspirin, dùng đường toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao.
- Bác sĩ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có các triệu chứng tim mạch trước đó.
Bệnh nhân cần được cảnh báo về các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm khám bác sĩ ngay khi xuất hiện các triệu chứng này. Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng
Ketorolac A.T ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.
Đường hô hấp: Cần thận trọng nếu dùng thuốc cho bệnh nhân mắc, hoặc có tiền sử co thắt phế quản vì NSAIDs đã được báo cáo có thể gây co thắt phế quản ở bệnh nhân này.
Bệnh nhân suy thận: Ketorolac và các chất chuyển hóa của nó được thải trừ chủ yếu qua thận, bệnh nhân suy thận vừa đến nặng (creatinine huyết thanh lớn hơn 160 micromol/lít) không nên dùng ketorolac đường tiêm. Bệnh nhân suy thận nhẹ nên giảm liều ketorolac (không vượt quá 60 mg/ngày IM hoặc IV) và cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận.
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống và bệnh mô liên kết hỗn hợp: Ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và rối loạn mô liên kết hỗn hợp có thể làm tăng nguy cơ viêm màng não vô khuẩn.
Phản ứng trên da: Nghiêm trọng, có thể gây tử vong, trong đó có viêm da tróc vảy, hội chứng Stevens – Johnson, và hoại tử biểu bì cũng đã được báo cáo nhưng rất hiếm, thường xảy ra ở tháng đầu tiên khi điều trị. Ketorolac tiêm nên ngừng vào lúc xuất hiện triệu chứng đầu tiên của phát ban da, tổn thương niêm mạc, hoặc bất kỳ dấu hiệu quá mẫn nào trên da.
Thận trọng liên quan đến khả năng sinh sản nữ :
Việc sử dụng ketorolac, như với bất kỳ loại thuốc ức chế tổng hợp cyclooxygenase/prostaglandin, có thể làm giảm khả năng sinh sản nữ và không được khuyến cáo ở phụ nữ đang cố gắng để thụ thai.
Ở những phụ nữ gặp khó khăn trong việc thụ thai hoặc những người đang điều tra vô sinh, ngừng dùng ketorolac nên được xem xét.
Suy tim, thận và gan: Cần thận trọng ở những bệnh nhân với tình trạng dẫn đến giảm khối lượng máu và/hoặc lưu lượng máu thận, nơi prostaglandin thận đóng vai trò hỗ trợ trong việc duy trì tưới máu thận. Ở những bệnh nhân sử dụng NSAIDs có thể gây giảm phụ thuộc vào liều tạo thành prostaglandin thận và có thể thúc đẩy suy thận mất bù. Bệnh nhân có nguy cơ cao nhất của phản ứng này là những người giảm thể tích máu do mất máu hoặc mất nước nặng, bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận, suy tim, rối loạn chức năng gan, người cao tuổi và những người dùng thuốc lợi tiểu. Chức năng thận nên được theo dõi ở những bệnh nhân này. Ngưng thuốc NSAIDs cho đến khi trở lại trạng thái trước khi điều trị. Thiếu dịch/máu trong quá trình phẫu thuật, dẫn đến giảm thể tích máu, có thể dẫn đến rối loạn chức năng thận, mà có thể còn làm trầm trọng hơn khi dùng ketorolac. Do đó, giảm thể tích cần được phục hồi và theo dõi chặt chẽ urê huyết, creatinine và lượng nước tiểu được khuyến cáo cho đến khi bệnh nhân có thể tích máu bình thường. Ở những bệnh nhân chạy thận nhân tạo, độ thanh thải ketorolac giảm xuống khoảng một nửa bình thường và thời gian bán thải tăng lên khoảng gấp ba lần.
Giữ natri/nước trong bệnh lý tim mạch và phù ngoại biên
Cần thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp và/hoặc suy tim, giữ nước và phù đã được báo cáo khi dùng kết hợp NSAIDs. Giữ nước, tăng huyết áp và phù ngoại biên đã được quan sát ở một số bệnh nhân dùng NSAIDs bao gồm ketorolac và do đó nó nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân bị bệnh tim mất bù, cao huyết áp hoặc các bệnh lý tương tự.
Bệnh nhân suy gan: Bệnh nhân bị suy chức năng gan do xơ không có bất kỳ thay đổi quan trọng về mặt lâm sàng, về độ thanh thải ketorolac hoặc thời gian bán thải.
Bất thường (chỉ số cao) của một hoặc nhiều xét nghiệm chức năng gan có thể xảy ra. Những bất thường có thể thoáng qua, có thể không thay đổi, hoặc có thể tiếp tục tiến triển điều trị. Độ cao có ý nghĩa (lớn hơn ba lần bình thường) của glutamate pyruvate
transaminase huyết thanh (SGPT/ALT) hoặc glutamate oxaloacetate transaminase huyết thanh (SGOT AST) xảy ra trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát trong vòng chưa đầy 1% số bệnh nhân. Nếu các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gan phát triển, hoặc nếu có biểu hiện, nên ngừng ketorolac.
Phản ứng dị ứng: Phản ứng dị ứng (bao gồm nhưng không giới hạn, sốc phản vệ, co thắt phế quản, đỏ bừng mặt, phát ban, hạ huyết áp, phù thanh quản và phù mạch) có thể xảy ra ở những bệnh nhân có hoặc không có tiền sử mẫn cảm với aspirin, NSAIDs khác hoặc ketorolac. Cũng có thể xảy ra ở những người có tiền sử phù mạch, phản ứng co thắt phế quản (ví dụ hen) và polyp mũi. Phản ứng phản vệ, như sốc phản vệ, có thể gây tử vong. Vì vậy, ketorolac không nên được sử dụng ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh hen và bệnh nhân có hội chứng hoàn toàn hoặc một phần của polyp mũi, phù mạch và co thắt phế quản.
Ảnh hưởng về huyết học: Bệnh nhân có rối loạn đông máu không nên dùng ketorolac. Những bệnh nhân đang điều trị thuốc chống đông máu có thể làm tăng nguy cơ chảy máu nếu dùng đồng thời ketorolac. Việc sử dụng đồng thời ketorolac và dự phòng heparin liều thấp (2.500 – 5.000 đơn vị mỗi 12 giờ), warfarin và dextran chưa được nghiên cứu rộng rãi và cũng có thể liên quan với tăng nguy cơ chảy máu. Bệnh nhân đã dùng thuốc chống đông hoặc cần dùng liều thấp heparin không nên dùng ketorolac. Bệnh nhân đang được điều trị bằng thuốc khác gây trở ngại cho việc cầm máu nên được theo dõi cẩn thận nếu dùng ketorolac
Ketorolac ức chế kết tập tiểu cầu và kéo dài thời gian chảy máu.
Ở những bệnh nhân có chức năng chảy máu bình thường, thời gian chảy máu không nằm ngoài phạm vi bình thường (2 – 11 phút).
Không giống như tác động kéo dài của aspirin, chức năng tiểu cầu trở lại bình thường trong vòng 24 – 48 giờ sau khi ngừng ketorolac.
Methotrexate: Cần thận trọng khi dùng đồng thời methotrexate vì một số thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin đã được báo cáo làm giảm độ thanh thải của methotrexate, và vì thế có thể làm tăng độc tính của methotrexate.
Lạm dụng và lệ thuộc thuốc: Ketorolac không có tiềm năng gây nghiện. Không có triệu chứng cai thuốc sau khi ngừng đột ngột ketorolac.
Cảnh báo tá dược
Thành phần thuốc có chứa ethanol trong mỗi ống, thuốc có hại cho bệnh nhân bị nghiện rượu. Cần lưu ý khi dùng thuốc cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, trẻ em và các đối tượng có nguy cơ cao như bệnh nhân bị suy gan, hoặc động kinh.
Thành phần thuốc có chứa dưới 1 mmol natri trong mỗi ống, về cơ bản được xem như không chứa natri.
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ
Không dùng thuốc này cho phụ nữ mang thai và đang cho con bú.
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÓC Sid Ở liều điều trị thuốc có thể có tác dụng không mong muốn như: chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi nên không sử dụng cho người lái xe và vận hành máy móc. TƯƠNG TÁC,
Tương tác thuốc
Ketorolac gắn kết với protein huyết tương rất cao (trung bình 99,2%) và không phụ thuộc nồng độ.
Các sản phẩm thuốc sau không được sử dụng cùng với ketorolac tiêm
NSAIDs/Aspirin: Ketorolac không nên được sử dụng với các NSAIDs khác bao gồm thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 hay ở bệnh nhân dùng aspirin vì sự gia tăng nguy cơ gây tác dụng không mong muốn nghiêm trọng liên quan đến NSAIDs. Thromboxane: Ketorolac ức chế kết tập tiểu cầu, làm giảm nồng độ thromboxane và kéo dài thời gian chảy máu. Không giống tác động kéo dài của aspirin, chức năng tiểu cầu trở lại bình thường trong vòng 24 – 48 giờ sau khi ngừng ketorolac.
Thuốc chống đông máu: Ketorolac tiêm chống chỉ định kết hợp với chất chống đông, chẳng hạn như warfarin khi dùng đồng thời có thể làm tăng tác dụng chống đông máu.
Mặc dù những nghiên cứu này không cho thấy sự tương tác đáng kể giữa ketorolac và warfarin hay heparin sử dụng đồng thời với ketorolac và điều trị có ảnh hưởng đến việc cầm máu, bao gồm cả liều điều trị chống đông (warfarin), dự phòng heparin liều thấp (2.500 – 5.000 đơn vị mỗi 12 giờ) và dextran có thể liên quan với tăng nguy cơ chảy máu.
Lithi: Ở những bệnh nhân dùng lithi, có sự ức chế thanh thải lithi ở thận, dẫn đến tăng nồng độ lithi trong huyết tương khi sử dụng đồng thời với một số loại thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin. Các trường hợp nồng độ lithi huyết tương tăng trong khi điều trị ketorolac đã được báo cáo.
Probenecid: Không nên dùng đồng thời với ketorolac vì giảm độ thanh thải huyết tương và thể tích phân bố của ketorolac dẫn đến tăng nồng độ ketorolac trong huyết tương và thời gian bán thải.
Mifepristone: NSAIDs không nên được sử dụng cho 8 – 12 ngày sau khi dùng mifepristone vì NSAIDs có thể làm giảm tác dụng của mifepristone.
Oxpentifylline: Khi ketorolac được dùng đồng thời với oxpentifylline, làm tăng xu hướng chảy máu.
Các sản phẩm thuốc sau kết hợp với ketorolac, phải được sử dụng một cách thận trọng:
Thuốc lợi tiểu: Ketorolac tiêm làm giảm tác dụng của thuốc lợi tiểu như furosemid, ở người khỏe mạnh thể tích máu bình thường khoảng 20%, do đó cần chăm sóc đặc biệt ở những bệnh nhân bệnh tim mất bù. Sử dụng đồng thời với thuốc lợi tiểu có thể làm giảm tác dụng lợi tiểu và làm tăng nguy cơ độc tính trên thận của NSAIDs.
Thuốc lợi tiểu và thuốc hạ huyết áp: NSAIDs có thể làm giảm tác dụng của thuốc lợi tiểu và các thuốc hạ huyết áp. Nguy cơ suy thận cấp, thường là hồi phục, có thể tăng ở một số bệnh nhân có chức năng thận bị tổn thương (ví dụ bệnh nhân bị mất nước hoặc bệnh nhân cao tuổi) khi dùng thuốc ức chế enzyme chuyển và/hoặc đối kháng thụ thể angiotensin II kết hợp với NSAIDs. Do đó, sự kết hợp nên được thận trọng, đặc biệt là ở người già. Bệnh nhân nên được theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị đồng thời và định kỳ sau đó
Glycosid tim: NSAIDs có thể làm trầm trọng thêm suy tim, giảm độ lọc cầu thận và tăng nồng độ glycosid tim huyết tương khi điều trị phối hợp với glycosid tim. Methotrexate: Cần thận trọng khi dùng đồng thời methotrexate, vì một số thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin đã được báo cáo làm giảm độ thanh thải của methotrexate, và vì thế có thể làm tăng độc tính của methotrexate.
Cyclosporin: Như với tất cả các NSAIDs cần thận trọng khi dùng đồng thời với cyclosporin vì tăng nguy cơ nhiễm độc thận.
Corticosteroid: Như với tất cả các thuốc NSAIDs, thận trọng khi dùng đồng thời với corticosteroid vì tăng nguy cơ viêm loét hoặc xuất
huyết dạ dày – ruột.
Kháng sinh quinolone: Dữ liệu nghiên cứu trên động vật cho thấy NSAIDs có thể làm tăng nguy cơ co giật khi kết hợp với kháng sinh quinolone. Bệnh nhân dùng NSAIDs và quinolone có thể làm tăng nguy cơ co giật.
Thuốc chống kết tập tiểu cầu và thuốc ức chế tái thu hồi chọn lọc serotonin (SSRI): Tăng nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa khi thuốc chống kết tập tiểu cầu và SSRI được kết hợp với NSAIDs.
Tacrolimus: Có nguy cơ nhiễm độc thận khi NSAIDs được dùng đồng thời với tacrolimus.
Zidovudine: NSAIDs dùng đồng thời với zidovudine làm tăng nguy cơ độc tính huyết học. Có bằng chứng về tăng nguy cơ tụ máu ở bệnh nhân HIV (+) hay chảy máu khi điều trị đồng thời zidovudine và ibuprofen.
Digoxin: Ketorolac tromethamine không làm thay đổi liên kết protein – digoxin. Trong nghiên cứu in vitro cho thấy ở nồng độ điều trị của salicylate (300 ug/ml), sự gắn kết với protein của ketorolac giảm từ 99,2% xuống 97,5%, tăng gấp hai lần nồng độ ketorolac không gắn kết trong huyết tương.
Nồng độ trị liệu của digoxin, warfarin, ibuprofen, naproxen, piroxicam, paracetamol, phenytoin và tolbutamide không làm thay đổi liên kết protein – ketorolac. ov má něm Ketorolac được chứng minh làm giảm nhu cầu thuốc giảm đau opioid dùng đồng thời khi nó được dùng để làm giảm các cơn đau sau phẫu thuật.
Thuốc kháng acid không ảnh hưởng đến mức độ hấp thu. Không có bằng chứng trên động vật hoặc các nghiên cứu trên người cho thấy ketorolac tromethamine không cảm ứng hoặc ức chế các enzyme gan có khả năng chuyển hóa chính nó hoặc các loại thuốc khác. Do đó ketorolac không làm thay đổi dược động học của thuốc khác do cơ chế cảm ứng hoặc ức chế enzyme gan.
Tương kỵ: Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC (ADR)
Thường gặp, 1/100 <ADR < 1/10:
- Phù, đau đầu, chóng mặt. Giới phút lớn tiện theo gần đối
- Mệt mỏi, ra mồ hôi.
- Buồn nôn, khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy.
Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100:
- Suy nhược, xanh xao.
- Ban xuất huyết.
- Trầm cảm, phấn khích, khó tập trung tư tưởng, mất ngủ, tình trạng kích động, dị cảm.
- Phân đen, nôn, viêm miệng, loét dạ dày, táo bón dai dẳng, đầy hơi, chảy máu trực tràng
- Ngứa, mày đay, nổi ban
- Hen, khó thở.
- Đau cơ.
- Đi tiểu nhiều, thiểu niệu, bí tiểu.
- Rối loạn thị giác.
- Khô miệng, khát, thay đổi vị giác.
Hiếm gặp, 1/10.000 <ADR < 1/1.000:
- Phản ứng phản vệ, bao gồm co thắt phế quản, phù thanh quản, hạ huyết áp, nổi ban da, phù phổi.
- Chảy máu sau phẫu thuật.
- Ảo giác, mê sảng.
- Hội chứng Lyell, hội chứng Stevens – Johnson, viêm da tróc vảy, ban da dát sần.
- Co giật, tăng vận động.
- Suy thận cấp, tiểu tiện ra máu, ure niệu cao.
- Nghe kém.
Nguy cơ huyết khối tim mạch (Xem thêm phần Cảnh báo và Thận trọng).
Xử trí: Ngừng thuốc nếu thấy có phản ứng không mong muốn xảy ra.
QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
Quá liều
Các dấu hiệu quá liều cấp tính các thuốc chống viêm không steroid thường là hôn mê, ngủ, buồn nôn, nôn, đau bụng vùng thượng vị, các triệu chứng này thường hồi phục khi dùng các thuốc điều trị hỗ trợ. Xuất huyết dạ dày – ruột có thể xảy ra. Hiếm khi gặp cao huyết áp, suy thận cấp, suy hô hấp và hôn mê.
Cách xử trí
Dùng các biện pháp điều trị triệu chứng và hỗ trợ giống như trường hợp quá liều các thuốc chống viêm không steroid. Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Thẩm tách máu không loại được ketorolac tromethamine. Trong vòng 1 giờ khi nghi ngờ sử dụng lượng lớn ketorolac đủ gây độc, có thể sử dụng than hoạt tính. Khi sử dụng quá liều có thể gây hại đến tính mạng ở người lớn, có thể súc rửa dạ dày trong vòng 1 giờ sau khi uống thuốc. Nên theo dõi kỹ chức năng gan và thận, kiểm tra nước tiểu thường xuyên. Bệnh nhân nên được theo dõi ít nhất 4 giờ khi nghi ngờ quá liều ketorolac. Khi phát hiện co giật thường xuyên hoặc kéo dài, bệnh nhân nên được điều trị bằng cách tiêm diazepam tĩnh mạch. in toàn có đi ngắn nhận
CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC LÝ
Dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc chống viêm không steroid
Mã ATC: M01AB15
Ketorolac là thuốc chống viêm không steroid có cấu trúc hóa học giống indomethacin và tolmetin. Ketorolac ức chế sinh tổng hợp prostaglandin. Thuốc có tác dụng giảm đau, chống viêm, hạ nhiệt nhưng tác dụng giảm đau lớn hơn tác dụng chống viêm. Khác với các thuốc opioid, ketorolac không gây nghiện hoặc ức chế hô hấp.
Ngoài ra, ketorolac còn có tác dụng chống viêm khi dùng tại chỗ ở mắt. Tuy nhiên, vì ketorolac ức chế tổng hợp prostaglandin, nên cũng tăng nguy cơ chảy máu do ức chế kết tập tiểu cầu và tăng nguy cơ loét dạ dày. Tương tự, ức chế tổng hợp prostaglandin ở thận có thể gây giảm dòng chảy qua thận ở người bị suy giảm chức năng thận. Ketorolac là thuốc chống viêm không steroid có tác dụng giảm đau mạnh và chống viêm vừa phải, được dùng thay thế cho các thuốc nhóm opioid và các thuốc giảm đau không steroid, trong điều trị giảm đau vừa đến nặng sau phẫu thuật, và có thể dùng trong điều trị đau cơ xương cấp hoặc đau khác và viêm ở mắt.
Dược động học
Tiêm bắp
Ketorolac hấp thu nhanh và hoàn toàn khi sử dụng tiêm bắp. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt 2,2 ug/ml sau khi tiêm liều đơn 30 mg trong vòng 50 phút. Tuổi tác, chức năng gan và thận ảnh hưởng đến thời gian bán thải của ketorolac trong huyết tương và tổng thải trừ được mô tả trong bảng sau:
| Phân loại | Tổng thải trừ ( lít/giờ/kg ) | Thời gian bán thải trung bình ( giờ ) | | — | — | — | | Người bình thường (n = 54) | 0,023 (0,010 – 0,046 ) | 5,3 (3,5 – 9,2 ) | | Bệnh nhân có rối loạn đầu chức năng thận (n=7) | 0,029 (0,013 – 0,066 ) | 5,4 ( 2,2 – 6,9 ) | | Bệnh nhân suy thận (n = 25) (Nồng độ creatinine huyết thanh 160 – 430 micromol/l ) | 0,016 ( 0,005 – 0,043 ) | 10,3 ( 5,9 – 19,2 ) | | Bệnh nhân chạy thận nhân tạo ( n=9 ) | 0,016 ( 0,003 – 0,036 ) | 13,6 ( 8,0 – 39,1 ) | | Người cao tuổi ( n = 13 ) ( Trung bình 72 tuổi ) | 0,019 ( 0,013 – 0,034 ) | 7,0 (4,7 – 8,6 ) |
Tiêm tĩnh mạch
Nồng độ đỉnh huyết tương của ketorolac khi tiêm tĩnh mạch liều đơn 10mg đạt 2,4 ug/ml sau thời gian trung bình khoảng 5,4 phút. Thời gian bán thải trong huyết tương là 5,1 giờ, thể tích phân bố trung bình đạt 0,15 l/kg và tổng thải trừ huyết tương đạt 0,35ml/phút/kg.
Dược động học của ketorolac ở người khi sử dụng liều đơn và liều đa là tuyến tính, nồng độ ở trạng thái ổn định trong huyết tương đạt được sau khi tiêm mỗi 6 giờ trong một ngày. Không có sự thay đổi trong tổng thải trừ khi sử dụng ketorolac trong thời gian dài. Đường thải trừ chủ yếu của ketorolac và các chất chuyển hóa của nó là thận
với 91,4% liều được bài tiết qua nước tiểu và 6,1% được tìm thấy trong phân.
Hơn 99% ketorolac trong huyết tương liên kết với protein trên khoảng nồng độ lớn.
BẢO QUẢN: Nơi khô ráo, nhiệt độ không quá 30°C, tránh ánh sáng.




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.