- THÀNH PHẦN CÔNG THỨC: Mỗi lọ có chứa:
Thành phần hoạt chất:
Methylprednisolon natri succinat 53,12 mg tương đương với 40 mg methylprednisolon
Thành phân tá dược: Natri dihydro phosphat khan, dinatri hydrophosphat khan, nước cất pha tiêm (bay hơi hết trong thành phẩm)
- DẠNG BÀO CHẾ: Bột đông khô pha tiêm.
Mô tả: Bột đông khô màu trắng chứa trong lọ thủy tinh.
- CHỈ ĐỊNH:
Methylprednisolon natri succinate được chỉ định trong các trường hợp sau:
Rối loạn nội tiết tố:
Suy vỏ thượng thận nguyên phát hoặc thứ phát ( có thể kết hợp với mineralcorticoid khi cần thiết)
Suy vỏ thượng thận cấp tính ( có thể cần phải bổ sung mineralcorticoid)
Sốc thứ phát do suy vỏ thượng thận hoặc sốc không đáp ứng với liệu pháp điều trị quy ước ở những bệnh nhân đang có suy vỏ thượng thận ( khi hoạt tính mineralcorticoid không tốt như mong đợi)
Dùng trước phẫu thuật, hoặc khi có chấn thương nghiêm trọng hoặc bệnh nặng, ở bệnh nhân đã biết có suy vỏ thượng thận hoặc khi nghi ngờ thiếu hụt dự trữ hormon vỏ thượng thận.
Tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh
Viêm tuyến giáp không sinh mủ
Tăng canxi máu liên quan đến ung thư
Rối loạn thấp khớp (điều trị bổ trợ ngắn hạn để kiểm soát giai đoạn cấp tính hoặc đợt kịch phát):
Viêm xương khớp sau chấn thương, Viêm màng hoạt dịch trong viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp, kể cả viêm khớp dạng thấp ở thiếu niên, Viêm bao hoạt dịch cấp và bán cấp.
Viêm mỏm lồi cầu xương,Viêm bao gân cấp không đặc hiệu, Viêm khớp cấp tính do gout,Viêm khớp vảy nến, Viêm cột sống dính khớp
Bệnh hệ thống tạo keo và bệnh phức hợp miễn dịch ( trong đợt kịch phát hoặc điều trị duy trì trong các trường hợp chọn lọc)
Lupus ban đỏ hệ thống (và viêm thận lupus), Viêm tim cấp do thấp, Viêm da cơ toàn thân (viêm đa cơ), Viêm đa động mạch nút, Hội chứng Goodpasture.
Bệnh về da:
Bệnh Pemphigus ( bệnh bọng nước tự miễn trên da và niêm mạc), Hồng ban đa dạng thể nặng (hội chứng Stevens-Johnson), Viêm da tróc vảy, Vảy nến thể nặng, Viêm da bọng nước dạng Herpes, Viêm da tăng tiết bã nhờn thể nặng, U sủi dạng nấm.
Tình trạng dị ứng (dùng để kiểm soát các tình trạng dị ứng nặng hoặc khó chữa khi đã thất bại với các cách điều trị thông thường):
Hen phế quản, viêm da tiếp xúc, Viêm da dị ứng, Bệnh huyết thanh, Viêm mũi dị ứng theo mùa hoặc quanh năm, Các phản ứng quá mẫn với thuốc, Phản ứng mày đay khi truyền thuốc, Phù thanh quản cấp không nhiễm khuẩn.
Các bệnh về mắt (các quá trình viêm và dị ứng mạn tính và cấp tính nghiêm trọng ở mắt)
Nhiễm trùng giác mạc do Herpes zoster, Viêm mống mắt, viêm mống mắt- thể mi, Viêm màng mạch- võng mạc, viêm màng mạch nho khuếch tán phía sau và viêm màng mạch, viêm thần kinh thị giác, Nhãn viêm giao cảm, Viêm tiền phòng, Viêm kết mạc dị ứng, viêm loét kết mạc do dị ứng, viêm giác mạc.
Bệnh tiêu hóa (giúp đưa bệnh nhân qua khỏi cơn nguy kịch của bệnh)
Viêm loét đại tràng, Viêm đoạn ruột non.
Bệnh hô hấp
Bệnh sarcoid có triệu chứng, Ngộ độc berylii, Trong lao phổi lan tỏa hoặc bùng phát cấp tính ( khi dùng đồng thời hoát trị liệu kháng lao thích hợp), Hội chứng Loeffler không thể kiểm soát được bằng các phương pháp khác, Viêm phối hít, Viêm phổi từ trung bình tới nghiêm trọng do Pneumocystis Jiroveci ở bệnh nhân AIDS (như điều trị bổ trợ khi dùng trong 72 giờ đầu tiên của liệu pháp khởi đầu chống Pneumocystis), Các đợt kịch phát của bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD).
Rối loạn về máu
Thiếu máu tan máu mắc phải (tự miễn), Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn ở người lớn (chỉ tiêm tĩnh mạch, chống chỉ định tiêm bắp), Giảm tiểu cầu thứ phát ở người lớn, Chứng giảm nguyên hồng cầu ( thiếu máu hồng cầu), Thiếu máu giảm sản bẩm sinh ( dòng hồng cầu).
Các bệnh ung thư (điều trị tạm thời)
Bệnh bạch cầu và u lymphô ở người lớn, Bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em, Để cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối
Tình trạng phù :
Để giúp bài niệu hoặc giảm protein niệu trong hội chứng thận hư mà không kèm theo uê-huyết thuộc tuýp tự phát hoặc do lupus ban đỏ.
Hệ thần kinh
Phù não từ khối u nguyên phát hoặc di căn, hoặc do phẫu thuật hoặc xạ trị. Đợt kịch phát cấp tính của bệnh đa xơ cứng.
Chấn thương tủy sống cấp tính. Cân bắt đầu điều trị trong vòng 8 giờ từ khi bắt đầu tổn thương
Các chỉ định khác:
Lao màng não có tắc nghẽn khoảng dưới nhện hoặc dọa tắc khi dùng đồng thời hóa trị liệu kháng lao thích hợp. Bệnh giun xoắn liên quan đến thần kinh hoặc cơ tim.
Cấy ghép nội tạng. Ngăn ngừa buồn nôn và nôn khi dùng hóa trị liệu chống ung thư.
- CÁCH DÙNG, LIỀU DÙNG:
Liều dùng:
Methylprednisolon natri succinat có thể tiêm hoặc truyền tĩnh mạch hoặc tiêm bắp. Phương pháp được ưu tiên lựa chọn cho cấp cứu ban đầu là tiêm tĩnh mạch. Xem bảng 1 về liều lượng khuyến cáo. Có thể giảm liều cho trẻ sơ sinh và trẻ em, nhưng cần chọn lựa chọn dựa vào mức độ nghiêm trọng của bệnh và đáp ứng của bệnh nhân hơn là dựa vào tuổi và thể trạng của bệnh nhân. Liều lượng cho trẻ em không nên thấp hơn 0,5mg/kg mỗi 24 giờ.
Bảng 1. Liều khuyến cáo đổi với Methylprednisolon natri succinat
| Chỉ định | Liều dùng |
|---|---|
| Điều trị hỗ trợ cho các trường hợp đe dọa tính mạng | Tiêm tĩnh mạch 30mg/kg trong thời gian ít nhất 30 phút. Có thể nhắc lại liều này 4-6 giờ mỗi lần cho đến 48 giờ |
| Rối loạn thấp khớp không đáp ứng với phác đồ điều trị chuẩn (hoặc trong giai đoạn kịch phát) | Tiêm tĩnh mạch trong ít nhất 30 phút. Có thể lặp lại chế độ liều này nếu không có cải thiện sau 1 tuần điều trị, hoặc do tình trạng của bệnh nhân yêu cầu : |
| 1g/1 ngày , trong 1-4 ngày hoặc | |
| 1g/1 tháng, trong 6 tháng | |
| Lupus ban đỏ hệ thống không đáp ứng với phác đồ điều trị chuẩn (hoặc trong giai đoạn kịch phát) | Tiêm tĩnh mạch 1g/ngày trong 3 ngày, trong ít nhất 30 phút. Có thể lặp lại chế độ liều này nếu không có cải thiện sau 1 tuần điều trị, hoặc do tình trạng của bệnh nhân yêu cầu. |
| Đa xơ cứng không đáp ứng với phát đồ điều trị chuẩn (hoặc trong giai đoạn kịch phát) | Tiêm tĩnh mạch 1g/ ngày, trong 3 hoặc 5 ngày trong thời gian ít nhất 30 phút. Có thể lặp lại chế độ liều này nếu không có cải thiện sau 1 tuần điều trị, hoặc do tình trạng của bệnh nhân yêu cầu |
| Trạng thái phù như viêm cầu thận hoặc viêm thận do lupus không đáp ứng với phác đồ điều trị chuẩn (hoặc trong giai đoạn kịch phát) | Tiêm tĩnh mạch trong thời gian ít nhất 30 phút. Có thể lặp lại chế độ liều này nếu không có cải thiện sau 1 tuần điều trị, hoặc do tình trạng bệnh nhân yêu cầu |
| 30mg/kg cách ngày, dùng trong 4 ngày hoặc | |
| 1g ngày trong 3,5 hoặc 7 ngày | |
| Ung thư giai đoạn cuối ( để cải thiện chất lượng cuộc sống) | Tiêm tĩnh mạch 125mg/ngày trong tối đa 8 tuần |
| Ngăn ngừa nôn và buồn nôn do hóa trị liệu về ung thư | Hóa trị liệu gây nên nhẹ và trung bình |
| Tiêm tĩnh mạch 250mg trong ít nhất 5 phút vào 1 giờ trước khi hóa trị. Nhắc lại liều khi bắt đầu hóa trị và vào lúc ngừng dùng hóa trị. Cũng có thể phối hợp với dẫn xuất clo của phenothiazin khi dùng liều đầu tiên của methylprednisolon để tăng hiệu lực chống nôn | |
| Hóa trị liệu gây nôn nghiêm trọng | |
| Tiêm tĩnh mạch 250mg trong ít nhất 5 phút, phối hợp với liều thích hợp metoclopramid hoặc 1-butyrophenon 1 giờ trước hỏa trị, sau đó nhấc lại liều methylprednisolon lúc khởi đầu hóa trị và vào lúc ngừng hóa trị. | |
| Tổn thương tủy sống cấp tính | Điều trị nên bắt đầu trong vòng 8 giờ sau khi tổn thương |
| Với bệnh nhân bắt đầu điều trị trong vòng 3 giờ sau khi tổn thương: Tiêm tĩnh mạch 30mg/kg trong thời gian 15 phút rồi nghỉ 45 phút, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục với liều 5,4mg/kg/giờ trong 23 giờ | |
| Với bệnh nhân khởi đầu điều trị trong vòng 3-8 giờ sau khi tổn thương: tiêm tĩnh mạch 30mg/kg trong thời gian 15 phút rồi nghỉ 45 phút, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục với liều 5,4mg/kg/giờ trong 47 giờ | |
| Cần dành riêng một đường tĩnh mạch để bơm truyền. | |
| Viêm phổi do *****Pneumocystis jiroveci *****ở bệnh nhân AIDS | Liệu trình điều trị nên bắt đầu trong vòng 72 giờ trong điều trị khởi đầu chống Paeumocystis |
| Một chế độ có thể thực hiện là tiêm tĩnh mạch 40mg , 6-12 giờ mỗi lần cho đến tối đa là 21 ngày hoặc cho đến khi kết thúc quá trình điều trị Pneumocysti | |
| Do có tăng tốc độ hoạt hóa lại bệnh lao ở bệnh nhân AIDS, cần suy xét nên sử dụng các thuốc chống lao mỗi khi dùng corticosteroid cho các đối tượng có nguy cơ cao này. Cũng cần theo dõi bệnh nhân về khả năng mắc các nhiễm khuẩn tiềm tàng khác. | |
| Các đợt kịch phát của bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) | Đã nghiên cứu 2 chế độ liều : |
| Tiêm tĩnh mạch 0,5mg/kg 6 giờ mỗi lần, dùng trong 72 giờ hoặc | |
| Tiêm tĩnh mạch 125mg 6 giờ mỗi lần, dùng trong 72 giờ, rồi chuyển sang dạng corticosteroid uống và với liều giảm dần. Tổng thời gian điều trị nên ít nhất là 2 tuần. | |
| Điều trị hỗ trợ cho các chỉ định khác | Liều khởi đầu có thể thay đổi từ 10mg đến 500mg tiêm tĩnh mạch, tùy thuộc vào điều kiện lâm sàng. Có thể cần đến liều cao hơn để điều trị ngắn ngày các trường hợp cấp tính và nghiêm trọng. Các liều khởi đầu lên tới 250mg cần tiêm tĩnh mạch trong thời gian ít nhất 5 phút, còn nếu dùng liều cao hơn thì tiêm trong thời gian ít nhất là 30 phút. Các liều tiếp theo có thể tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch theo các khoảng cách tùy theo đáp ứng của bệnh nhân và theo tình trạng lâm sàng. |
Để tránh các vấn đề khi phối hợp thuốc và bảo đảm độ ổn định của thuốc , nên tiêm ở những vị trí riêng biệt với vị trí tiêm các thuốc khác nếu được.
Cách sử dụng:
Natri methylprednisolon succinat dùng để tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch.
Thuốc được hòa tan trong 1ml nước cất vô khuẩn, lắc đều cho tan hoàn toàn, dùng để tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch. Tiêm tĩnh mạch chậm trong thời gian từ 1 đến 5 phút.
Chuẩn bị dung dịch truyền tĩnh mạch: Pha loãng dung dịch pha tiêm với dung dịch dextrose 5%, dung dịch natri clorid 0,9%, dung dịch dextrose 5% trong natri clorid 0,9% pha tiêm. Dung dịch sau khi pha nên dùng ngay.
- CHỐNG CHỈ ĐỊNH:
Chống chỉ định Methylprednisolon natri succinat trong những trường hợp sau:
- Bệnh nhân có nhiễm nấm toàn thân.
- Bệnh nhân quá mẫn với methylprednisolon natri succinat và các thành phần khác trong chế phẩm.
- Dùng theo đường nội tủy.
- Dùng theo đường ngoài màng cứng.
- Chống chỉ định dùng vắc-xin sống hoặc vắc-xin sống – giảm động lực ở những bệnh nhân đang dùng các liều corticosteroid ức chế miễn dịch.
- CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC
Tác dụng ức chế miễn dịch/tăng nguy cơ nhiễm khuẩn
Corticosteroid có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, che lấp một số dấu hiệu nhiễm khuẩn và một số nhiễm khuẩn mới có thể xảy ra khi đang dùng corticosteroid. Có thể có hiện tượng giảm sức đề kháng và mất khả năng khu trú nhiễm khuẩn tại chỗ khi sử dụng corticosteroid. Nhiễm vi sinh vật gây bệnh bao gồm nhiễm virus, vi khuẩn, nấm, đơn bào hoặc giun sán ở ******bất kỳ vị trí nào của cơ thể có liên quan tới việc sử dụng corticosteroid dùng riêng rẽ hoặc phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác mà có tác động tới miễn dịch tế bào hoặc miễn dịch thể dịch hoặc tới chức năng của bạch cầu trung tính. Những nhiễm khuẩn này có thể nhẹ, nhưng cũng có thể nghiêm trọng và có khi gây tử vong. Khi tăng liều corticosteroid, tỷ lệ mắc các biến chứng nhiễm khuẩn cũng tăng lên.
Bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch dễ bị nhiễm khuẩn hơn những người khỏe mạnh khác. Ví dụ ở trẻ em hay người lớn chưa có miễn dịch đang dùng corticosteroid khi mắc thủy đậu và sởi có thể bị nặng hơn và thậm chí tử vong.
Chống chỉ định dùng vắc-xin sống hoặc vắc-xin sống đã giảm động lực ở bệnh nhân đang dùng các liều corticosteroid ức chế miễn dịch. Có thể dùng vắc-xin chết hoặc vắc-xin bất hoạt cho bệnh nhân đang dùng liều corticosteroid ức chế miễn dịch, tuy nhiên, đáp ứng của bệnh nhân với loại vắc-xin này có thể giảm đi. Có thể chỉ định tiêm chủng cho bệnh nhân đang dùng các liều corticosteroid không gây ức chế miễn dịch.
Sử dụng corticosteroid trong bệnh lao hoạt động cần giới hạn chỉ trong các trường hợp lao phổi lan tỏa hoặc thể bùng phát cấp tính mà trong đó corticosteroid được dùng để kiểm soát bệnh phối hợp với phác đổ khảng lao thích hợp.
Nếu corticosteroid được chỉ định ở người bệnh lao tiềm tàng hoặc phản ứng tuberculin, cần theo dõi chặt chẽ vì bệnh có thể tái phát. Nếu dùng corticosteroid dài ngày, bệnh nhân cần được điều trị dự phòng bằng các thuốc kháng lao.
U Sarcom Kaposi (Kaposi’s sarcoma) đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng corticosteroid. Ngừng sử dụng corticosteroid có thể sẽ thuyên giảm triệu chứng trên lâm sàng.
Vai trò của các corticosteroid trong sốc nhiễm khuẩn vẫn còn đang được tranh luận, các nghiên cứu gần đây cho thấy có cả tác dụng có lợi cũng như các ảnh hưởng bất lợi. Gần đây, việc dùng corticosteroid bổ sung đã cho thấy là có lợi cho bệnh nhân được xác định là sốc nhiễm khuẩn và có suy giam chức năng tuyến thượng thận. Tuy nhiên, không nên sử dụng thường xuyên liệu pháp này trong sốc nhiễm khuẩn. Một tổng quan hệ thống đã kết luận rằng điều trị các corticosteroid liều cao trong thời gian ngắn không mang lại tác dụng. Tuy nhiên, các phân tích gộp và một tổng quan đã cho thấy sử dụng corticosteroid liều thấp trong khoảng thời gian dài hơn (5-11 ngày) có thể làm giảm tỉ lệ tử vong, nhất là ở bệnh nhân bị sốc nhiễm khuẩn phải dùng thuốc co mạch.
Tác dụng trên hệ miễn dịch
Có thể xảy ra phản ứng dị ứng. Vì một số hiếm các trường hợp dị ứng trên da và phản ứng phản vệ đã xảy ra ở bệnh nhân dùng corticosteroid, nên cần có những biện pháp phòng ngừa thích hợp trước khi dùng corticosteroid, đặc biệt khi bệnh nhân có tiền sử dị ứng với bất kỳ loại thuốc nào.
Tác dụng trên nội tiết
Bệnh nhân đang sử dụng corticosteroid mà phải chịu những căng thẳng bất thường, cần chỉ định dùng corticosteroid tác dụng nhanh với liều cao hơn trước, trong và sau khi bị stress. Sử dụng corticosteroid ở liều có tác dụng dược lý trong thời gian kéo dài có thể dẫn tới ức chế trục dưới đồi-tuyên yên-thượng thận (HPA) (Suy vỏ thượng thận thứ phát). Mức độ và thời gian suy vỏ thượng thận thứ phát khác nhau giữa các bệnh nhân và phụ thuộc vào liều, tần suất, thời điểm dùng thuốc và khoảng thời gian điều trị bằng glucocorticoid. Có thể giảm liều tác dụng này bằng liệu pháp điều trị cách nhật Ngoài ra, suy vỏ thượng thận cấp còn dẫn đến tử vong nếu dừng glucocorticoid đột ngột. Do đó, có thể giảm liều nguy cơ suy vỏ thượng thận thứ phát do thuốc bằng cách giảm liều từ từ. Kiêu suy vỏ thượng thận này có thể tồn tại nhiều tháng sau khi ngưng điều trị, do đó trong thời gian này, nếu xảy ra bất kỳ trường hợp tress nào, nên bắt đầu sử dụng lại liệu pháp hormon. “Hội chứng cai thuốc” steroid, không liên quan đến tình trạng suy vỏ thượng thận, có thể gặp sau khi ngừng đột ngột glucocorticoid. Hội chứng này gồm các triệu chứng như: chán ăn, buồn nôn, nôn, hôn mê, đau
đầu, sốt, đau khớp, bong da, đau cơ, giảm cân và/hoặc hạ huyết áp. Những ảnh hưởng này được cho là do thay đổi đột ngột nồng độ glucocorticoid hơn là do nồng độ corticosteroid thấp. | Vì glucocorticoid có thể gây ra hoặc làm nặng thêm hội chứng Cushing, nên tránh sử dụng glucocorticoid trên những bệnh nhân Cushing.
Tác dụng của corticosteroid tăng lên trên những bệnh nhân thiểu năng tuyến giáp.
Tác dụng trên chuyển hóa và dinh dưỡng
Các corticosteroid, bao gồm methylprednisolon, có thể làm tăng đường huyết, làm nặng hơn tình trạng tiểu đường sẵn có, và có thể dẫn đến tiểu đường trên những đối tượng sử dụng corticosteroid kéo dài.
Tác dụng trên tâm thần
Các xáo trộn về tâm thần có thể xuất hiện khi dùng corticosteroid, từ sáng khoái, mất ngủ, thay đổi tâm trạng, tính khi thất thường và trầm cảm nặng cho đến những biểu hiện tâm thần thật sự. Ngoài ra, sự bất ổn cảm xúc hoặc khuynh hướng tâm thần có thể nặng hơn do corticosteroid.
Khả năng gặp các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng về tâm thần có thể xảy ra khi dùng steroid theo đường toàn thân. Các triệu chứng thường xuất hiện trong một vài ngày hoặc vài tuần từ khi bắt đầu điều trị. Hầu hết các triệu chứng mất đi sau khi giảm hoặc dùng corticosteroid, mặc dù có thể cần phải điều trị đặc biệt. Các tác dụng về tâm thần đã được báo cáo khi ngừng corticosteroid, tuy nhiên chưa biết rõ tần suất. Bệnh nhân/ người chăm sóc nên lưu ý nếu các triệu chứng tim thần tiến triển ở bệnh nhân, đặc biệt nếu nghi ngờ bệnh nhân bị trầm cảm hay có ý định tự tử. Bệnh nhân người chăm sóc nên được cảnh bảo về những rối loạn tâm thần có thể xuất hiện trong khi điều trị hoặc ngay sau khi giảm liều*/* ngừng dùng steroid toàn thân.
Tác dụng trên hệ thần kinh
Nên thận trọng khi dùng corticosteroid trên những bệnh nhân động kinh.
Nên thận trọng khi dùng corticosteroid trên những bệnh nhân nhược cơ nặng (xem thêm về bệnh cơ trong phần Tác dụng trên hệ cơ xương).
Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng đã cho thấy corticosteroid có tác dụng giảm nhanh mức độ trầm trọng cấp tỉnh trong đợt cấp của bệnh đa xơ cứng, nhưng những thử nghiệm đó không chứng tỏ được rằng corticosteroid có ảnh hưởng xấu đến kết quả điều trị cuối cùng hoặc diễn biến tự nhiên của bệnh. Các nghiên cứu cho thấy rằng cần dùng liều corticosteroid tương đối cao mới có tác dụng đáng kể. Các biến cố y khoa nặng đã được báo cáo có liên quan đến đường dùng nội tùy ngoài màng cứng (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Đã có báo cáo về hiện tượng tích mỡ ngoài màng cứng ở những bệnh nhân dùng corticosteroid, điển hình là khi sử dụng liều cao kéo dài.
Tác dụng trên mắt
Cần dùng thận trọng corticosteroid ở bệnh nhân nhiễm Herpes simplex ở mắt vì có thể gây thủng giác mạc.
Dùng corticosteroid kéo dài có thể làm đục thủy tinh thể dưới bao sau và đục thủy tinh thể ở trung tâm (đặc biệt ở trẻ em), lồi mắt hoặc tăng áp lực nội nhân, có thể dẫn đến bệnh tăng nhãn áp đi kèm tổn thương thần kinh thị giác. Có thể tăng nguy cơ nhiễm nấm và virus thứ phát trên mắt ở bệnh nhân dùng glucocorticoid.
Liệu pháp corticosteroid đã từng được xác định có liên quan đến bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch, một chứng bệnh có thể dẫn đến bong võng mạc.
Tác dụng trên tim
Tác dụng không mong muốn của glucocorticoid trên hệ tim mạch, như rối loạn lipid máu và tăng huyết áp, có thể khiến các bệnh nhân đã có sẵn nguy cơ về tim mạch phải chịu thêm các ảnh hưởng tim mạch khác, nếu dùng liều cao và kéo dài. Vì vậy, corticosteroid nên được dùng thận trọng ở những bệnh nhân này, cần theo dõi sự thay đổi của các yếu tố nguy cơ và theo dõi chức năng tim thêm nếu cần thiết. Các biến chứng trong điều trị bằng corticosteroid có thể giảm khi sử dụng liệu pháp điều trị cách nhật và dùng liều thấp.
Sau khi tiêm nhanh các liều cao methylprednisolon natri succinat (hơn 0,5gam trong thời gian dưới 10 phút), đã có báo cáo về rối loạn nhịp tim và/ hoặc trụy mạch và/ hoặc ngừng tim. Chậm nhịp tim đã được báo cáo trong hoặc sau khi dùng liều cao methylprednisolon natri succinat, và có thể không liên quan tới tốc độ và thời gian tiêm truyền.
Nên thận trọng khi dùng các corticosteroid toàn thân, và chỉ dùng khi thực sự cần thiết, trong trường hợp suy tim sung huyết,
Tác dụng trên mạch
Huyết khối, bao gồm thuyên tác huyết khối tĩnh mạch, đã được báo cáo xảy ra khi dùng corticosteroid. Do đó, corticosteroid cần được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân đang bị hoặc có thể có nguy cơ bị các rối loạn về huyết khối.
Cần dùng thận trọng corticosteroid ở những bệnh nhân cao huyết áp.
Tác dụng lên ống tiêu hóa
Liều cao corticosteroid có thể gây viêm tụy cấp.
Không có quan điểm thống nhất nào về việc chính corticosteroid gãy nên tình trạng loét đường tiêu hóa trong quá trình điều trị hay không. Tuy nhiên, dùng glucocorticoid có thể che lấp những triệu chứng của
loét đường tiêu hóa, gây nên tình trạng thủng hoặc xuất huyết tiêu hóa mà không kèm đau đớn rõ rệt. Nguy cơ bị loét đường tiêu hóa tăng lên khi kết hợp với các thuốc chống viêm không steroid (NSAID).
Thận trọng khi dùng corticosteroid trong viêm loét đại tràng không đặc hiệu nếu dọa thủng, áp xe hay nhiễm khuẩn sinh mủ khác, viêm túi thừa, có chỗ nổi ruột non mới, đang bị hay có tiền sử bị loét đường tiêu hóa.
Tác dụng lên gan mật
Tổn thương gan do thuốc, như viêm gan cấp tỉnh, có thể xảy do truyền methylprednisolon qua đường tĩnh mạch theo chu kỳ (thường với liều 1g/ ngày). Thời gian phát bệnh viêm gan cấp tính có thể là nhiều tuần hoặc lâu hơn. Đã quan sát thấy các biến cố này biến mất sau khi ngưng điều trị.
Tác dụng trên hệ cơ xương
Đã có báo cáo về bệnh cơ cấp tính khi sử dụng corticosteroid liều cao, thường xảy ra ở bệnh nhân bị các rối loạn dẫn truyền thần kinh cơ (ví dụ nhược cơ nặng) hay trên bệnh nhân đang dùng các thuốc kháng cholinergic như thuốc ức chế thần kinh cơ (ví dụ pancuronium). Bệnh cơ cấp tính này lan rộng, có thể liên quan đến các cơ mắt, cơ hô hấp và có thể dẫn tới liệt chi. Tinh trạng tăng creatinin kinase có thể xảy ra. Để có tiến triển về mặt lâm sảng hay hồi phục, cần dùng thuốc trong vòng vài tuần đến vài năm.
Loãng xương là tác dụng không mong muốn phổ biến, nhưng ít được phát hiện khi dùng glucocorticoid liều cao và kéo dài.
Rối loạn hệ tiết niệu
Nếu thận trọng khi dùng corticosteroid trên những bệnh nhân suy thận Nghiên cứu
Liều trung bình hoặc cao của hydrocortison hoặc cortison có thể gây tăng huyết áp, giữ muối và nước tăng thái trừ kali. Những tác dụng này ít gặp hơn với các dẫn xuất tổng hợp trừ khi dùng liều cao. Chế độ ăn hạn chế muối và bổ sung kali có thể cần thiết. Tất cả các corticosteroid đều làm tăng thải trừ calci.
Chấn thương, ngộ độc và các biến chứng phẫu thuật
Corticosteroid dùng toàn thân không được chỉ định, và do đó không nên dùng để điều trị chấn thương sọ não. Một nghiên cứu đa trung tâm cho thấy tăng tỷ lệ tử vong tại thời điểm 2 tuần và 6 tháng sau chấn thương ở những bệnh nhân dùng methylprednisolon natri succinat so với bệnh nhân dùng giả được. Mối quan hệ nhân quả với việc điều trị bằng methylprednisolon natri succinat chưa được thiết lập.
Cảnh báo khác
Do các biến chứng khi dùng glucocorticoid phụ thuộc vào liều lượng và thời gian điều trị, cần cân nhắc lợi ích/ nguy cơ trên từng bệnh nhân về liều lượng và thời gian điều trị theo liều hàng ngày hay dùng cách nhật.
Nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả của corticosteroid để kiểm soát tình hình điều trị và khi có thể giảm liều nên giảm từ tử.
Cần thận trọng khi sử dụng aspirin và các thuốc chống viêm không steroid phối hợp với corticosteroid.
Bệnh u tế bảo ưa crôm có thể gây tử vong đã được báo cáo sau khi sử dụng corticosteroid toàn thân. Với bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã xác định là mắc bệnh u tế bào ưa crôm, chỉ nên sử dụng corticosteroid sau khi đã tiến hành đánh giả lợi ích/ nguy cơ phù hợp.
Dùng ở trẻ em
Cần theo dõi chặt chẽ sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ em sử dụng corticosteroid kéo dài.Chậm tăng trưởng có thể gặp trên trẻ em sử dụng glucocorticoid kéo dài, hàng ngày, với liều chia nhỏ và việc sử dụng liệu pháp này nên hạn chế.
Chỉ nên dùng với các chỉ định khẩn cấp nhất. Liệu pháp glucocorticoid dùng cách nhật có thể tránh và giảm thiểu tác dụng không mong muốn này.
Trẻ sơ sinh và trẻ em sử dụng corticosteroid kéo dài có nguy cơ đặc biệt về tăng áp lực nội sọ.
Liều cao corticosteroid có thể gây viêm tụy ở trẻ em.
- SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ:
Thời kỳ mang thai: Dùng kéo dài corticosteroid toàn thân cho người mẹ đang mang thai có thể dẫn đến giảm nhẹ thể trọng của trẻ sơ sinh, có thể gây đục thủy tinh thể ở trẻ sơ sinh. Nói chung, sử dụng corticosteroid ở người mang thai chưa được nghiên cứu đầy đủ, nên đòi hỏi phải cân nhắc lợi ích có thể đạt được so với những rủi ro có thể xảy ra với mẹ và con khi dùng thuốc
Thời kỳ cho con bú: Corticoid bài tiết được qua sữa mẹ nên có thể gây ức thể tăng trưởng và ảnh hưởng đến việc sản xuất glucocorticoid nội sinh ở trẻ sơ sinh bú mẹ. Nên cân nhắc lợi ích có thể đạt được so với những rủi ro có thể xảy ra với mẹ và con khi sử dụng.
- ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC ĐẾN KHẢ NĂNG LÁI XE VÀ VẬN HÀNH MÁY MÓC:
Một số tác dụng không mong muốn lên thần kinh trung ương (như chóng mặt, nhức đầu, ảo giác, thần kinh dễ bị kích động) có thể làm giảm sự tập trung và khả năng phản ứng, do đó không nên lái xe hoặc vận hành máy móc khi đang dùng thuốc.
- TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC
Methylprednisolon là cơ chất của enzym cytochrom P450 (CYP) và chủ yếu được chuyển hóa bởi enzym CYP3A4. CYP3A4 là enzym chính của hầu hết các phân họ CYP trong gan của người trưởng thành. Nó xúc tác cho quá trình 6B – hydroxyl hóa steroid, giai đoạn I thiết yếu trong quá trình chuyển hóa cho cả corticosteroid nội sinh và tổng hợp. Cũng có rất nhiều chất khác cũng là cơ chất của CYP3A4, một số chất này (cũng như các thuốc khác) làm thay đổi sự chuyển hóa glucocorticoid bằng cách gây cảm ứng (điều hòa tăng) hoặc ức chế enzym CYP3A4.
Các chất ức chế CYP3A4 – Những thuốc ức chế hoạt tính CYP3A4 nhìn chung làm giảm độ thanh thải của gan và tăng nồng độ của các thuốc là cơ chất của CYP3A4 như methylprednisolon trong huyết tương. Nếu có các chất ức chế CYP3A4, nên chuẩn liều methylprednisolon để tránh bị ngộ độc steroid.
Các chất cảm ứng CYP344 – Những thuốc gây cảm ứng CYP3A4 nhìn chung làm tăng độ thanh thải của gan, dẫn tới làm giảm nồng độ các thuốc là cơ chất của CYP3A4. Có thể cần phải tăng liều methylprednisolon khi dùng các thuốc này để đạt được kết quả điều trị như mong muốn. Các chất là cơ chất của CYP344 – Khi có mặt một cơ chất khác CYP3A4, quá trình thanh thải qua gan của methylprednisolon có thể bị ảnh hưởng, do đó cần điều chỉnh liều tương ứng liều dùng của methylprednisolon. Có thể các tác dụng không mong muốn khi dùng riêng mỗi thuốc sẽ dễ xảy ra với methylprednisolon được trình bày trong bảng 2.
Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
- QUÁ LIỀU & CÁCH XỬ TRÍ:
Những triệu chứng quá liều gồm biểu hiện hội chứng Cushing (toàn thân), yếu cơ (toàn thân), và loãng xương (toàn thân), tất cả chỉ xảy ra khi sử dụng glucocorticoid dài hạn.
Khi sử dụng liều quá cao trong thời gian dài, tăng năng vỏ tuyến thượng thận và ức chế tuyến thượng thận có thể xảy ra. Trong những trường hợp này cần cân nhắc để có quyết định đúng đắn tạm ngừng hoặc ngừng hẳn việc dùng glucocorticoid.
Trong trường hợp quá liều, không có thuốc giải độc đặc hiệu mà chỉ điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng. Methylprednisolon có thể thẩm tách được.
- ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC:
Nhóm dược lý: Glucocorticoids, mã ATC: HO2AB04
Methylprednisolon là một glucocorticoid, dẫn xuất 6 – alpha – methyl của prednisolon, có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch rõ rệt. Do methyl hóa prednisolon, tác dụng corticoid chuyển hóa muối đã được loại trừ, vì vậy có rất ít nguy cơ giữ Na+, và gây phù. Tác dụng chống viêm của methylprednisolon tăng 20% so với tác dụng của prednisolon, 4 mg methylprednisolon có hiệu lực bằng 20 mg hydrocortison. Chủng viêm, bất kỳ thuộc bệnh căn nào đều được đặc trưng bởi sự thoát mạch và thẩm của các bạch cầu vào mô (vị trí) bị viên Các glucocorticoid ức chế các hiện tượng này. Glucocorticoid dùng đường toàn thân làm tăng số lượng các bạch cầu trung tính và giảm số lượng các tế bào lympho, bạch cầu ưa eosin, bạch cầu đơn nhân trong máu ngoại biên. Bạch cầu trung tỉnh tăng là do sự tăng huy động các bạch cầu trung tỉnh từ dự trữ ở tủy xương ra, do nửa đời của chúng trong máu lưu thông được kéo dài và do sự thoát mạch và thâm nhiễm vào vị trí viên bị giảm đi. Có lẽ nguyên nhân cuối cùng này là một trong những cơ chế chính về tác dụng chống viêm của glucocorticoid
Glucocorticoid còn ức chế chức năng của các tế bào lympho và của các đại thực bào của mô. Khả năng đáp ứng của chúng với các kháng nguyên và các chất gây gián phân bị giảm. Tác dụng của glucocorticoid lên các đại thực bào đặc biệt rõ rệt, làm hạn chế khả năng thực bảo của chúng, hạn chế khả năng diệt vi sinh vật và hạn chế việc sản sinh interferon – gama, interleukin – 1, chất gây sốt, các enzym collagenase và elastase, yếu tố gây hoại tử chỗ sưng và chất hoạt hóa plasminogen. Glucocorticoid tác dụng lên tế bào lympho làm giảm sản sinh interleukin -2.
Ngoài tác dụng trên chức năng của bạch cầu, glucocorticoid còn tác động đến phản ứng viêm bằng cách làm giảm tổng hợp prostaglandin do hoạt hóa phospholipase A2. Glucocorticoid làm tăng nồng độ một số phospholipid mảng có tác dụng ức chế sự tổng hợp prostaglandin. Corticosteroid cũng làm tăng nồng độ lipocortin, là protein gây giảm tính khả dụng của phospholipid, cơ chất của phospholipase A2. Cuối cùng, glucocorticoid làm giảm sự xuất hiện cyclooxygenase ở những tế bào viêm, do đó làm giảm lượng enzym để sản sinh prostaglandin.
Glucocorticoid làm giảm tính thấm mao mạch do ức chế hoạt tính của kinin và các nội độc tố vi khuẩn và do làm giảm lượng histamin giải phóng bởi bạch cầu ưa base.
Natri methylprednisolon succinat chuyển hóa và tác dụng chống viêm giống methylprednisolon. Có tác dụng chống viêm mạnh hơn prednisolon, ít tác dụng phụ về giữ muối, nước hơn.
- ĐẶC TÍNH ĐƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu*:***
Thuốc dùng qua đường tiêm hấp thu nhanh. Sau khi tiêm bắp 40 mg methylprednisolon natri succinat cho 14 nam giới trưởng thành tình nguyện khỏe mạnh, nồng độ đỉnh trung bình 454 nanogam/ml đạt được sau 1 giờ. Đến giờ thứ 12, thấy nồng độ methylprednisolon trong huyết tương giảm xuống 31,9 nanogam/ml. Sau khi tiêm 18 giờ, không còn tìm thấy methylprednisolon. Dựa vào AUC, chỉ thị của tổng lượng thuốc được hấp thu, thì tiêm bắp methylprednisolon natri succinat tương đương với cùng liều tiêm tĩnh mạch.
Những kết quả của nghiên cứu đã chứng minh rằng natri succinat ester của methylprednisolon đã chuyển nhanh và mạnh sang phần methylprednisolon có hoạt tính sau khi dùng theo mọi đường dùng. Mức độ hấp thu của phần methylprednisolon tự do sau khi tiêm tĩnh mạch và tiêm bắp là tương đương và lớn hơn rõ rệt so với mức độ hấp thu sau khi uống dung dịch và uống viên nén methylprednisolon. Vì rằng lượng methylprednisolon được hấp thu sau khi tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch là tương đương, mặc dù có lượng lớn hơn của ester hemisuccinat đã vào được tuần hoàn chung sau khi tiêm tĩnh mạch, có thể rằng ester đã được chuyển trong mô sau khi tiêm bắp với sự hấp thu sau đó dưới dạng methylprednisolon tự do.
Phân bố:
Methylprednisolon được phân bố rộng khắp các mô, qua hàng rào máu não, và bài tiết qua sữa mẹ. Thể tích phân bố biểu kiến khoảng 1,4 L/kg. Khả năng gắn protein huyết tương của methylprednisolon ở người khoảng 77%
Chuyển hóa:
Methylprednisolon liên kết với protein huyết tương, chủ yếu là globulin, một ít với albumin, chỉ corticosteroid không liên kết có tác dụng dược lý hoặc được chuyển hóa. Quá trình chuyển hóa chủ yếu ở gan bởi CYP3A4 và ít hơn ở thận. Ở người, methylprednisolon được chuyển hóa ở gan thành các chất chuyển hóa không hoạt động; chủ yếu thành 20a-hydroxymethylprednisolon và 20B-hydroxymethylprednisolon.
Methylprednisolon, cũng như nhiều cơ chất của CYP3A4, cũng có thể là một cơ chất của protein p-glycoprotein vận chuyển hình hộp gắn ATP, ảnh hưởng đến sự phân bố ở mô và tương tác với các thuốc khác.
Thai trừ:
Các chất chuyển hóa được bài tiết trong nước tiểu.
Thời gian bán thải xấp xỉ 3 giờ. Độ thanh thái khoảng 5-6 ml / phút ở kg.
Không cần hiệu chỉnh liều là ở người suy thận. Methylprednisolon có thể thẩm tách lọc máu được
- Quy cách đóng gói: Hộp 10 lọ.
Điều kiện bảo quản: Bảo quản trong bao bì kín, tránh ánh sáng và ẩm, nhiệt độ dưới 30°C.
- Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Dung dịch sau khi pha nên dùng ngay.




Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.